| Doanh nghiệp Tào Tháo | ||||
| 05:25' AM - Thứ ba, 18/09/2007 | ||||
Giáo sư Thành Quân Ức - Đại học Bắc Kinh gọi các DN nhà nước của Trung Quốc trước cổ phần hoá là DN Tào Tháo. Đương nhiên , gọi như thế, Giáo sư Thành cũng có cái lý của ông. Cái lý đó xuất phát từ sự nghiệp của Tào Tháo. Sau khi giết Đổng Trác không thành, Tào Tháo chạy thục mạng về quê, trên đường ghé vào nhà người bạn kết nghĩa của cha Tào Tháo là Lã Bá Sa, xin ngủ qua đêm. Hai ngừơi đến cửa, xuống ngựa vào chào Lã Bá Sa. Sa hỏi Tháo rằng: - Ta nghe triều đình tầm nã anh cấp lắm. Cha anh phải lánh sang ở Trần Lưu rồi. Sao anh đến được đây? Tháo bèn đem chuyện đầu đuôi kể với Lã Bá Sa, rồi lại trỏ vào Trần Cung nói: - Nếu không gặp được quan huyện đây thì bây giờ đã thịt nát xương tan rồi. Lã Bá Sa vái Trần Cung rồi nói: - Cháu nó nếu không gặp được ngài, thì họ Tào còn gì. Đêm nay xin ngài hãy thong thả nghỉ lại đây. Nói xong, đứng dậy vào trong nhà, một chốc trở ra, bảo Trần Cung: - Nhà tôi không có rượu ngon. Để tôi sang xóm Tây, mua một bình rượu ngon về uống. Nói rồi lật đật cưỡi lừa ra đi. Tháo với Cung ngồi ở nhà, chợt nghe thấy sau nhà có tiếng mài dao. Tháo bảo Trần Cung rằng: - Lão Bá Sa đối với tôi không thân thiết gì lắm. Chuyện này đáng nghi đấy. Hai người rón rén bước ra sau nhà tranh, nghe thấy có tiếng người nói: - Trói lại mà giết! Tháo bảo Trần Cung: Phải rồi, nếu ta không hạ thủ trước thì sẽ bị bắt. Tháo và Cung hai người cùng rút gươm đi thẳng vào, gặp người nào trong nhà giết người ấy, giết một lúc tám người. Tìm đến trong bếp chỉ thấy một con lợn trói bốn vó sắp bị chọc tiết. Cung giật mình nói: - Mạnh Đức ơi! Đa nghi quá, giết nhầm phải người tử tế rồi. Hai người vội vàng trở ra lên ngựa đi. Đi độ được hai dặm gặp Lã Bá Sa cưỡi lừa về, trước yên treo hai lọ rượu, tay xách một nắm rau quả. Sa hỏi hai người: - Hiền điệt với sứ quân sao lại đi? Tháo nói: - Tôi là người có tội, không dám ở lâu. Lã Bá Sa nói: - Ta đã dặn người nhà làm thịt con lợn rồi. Sứ quân với hiền điệt ngại gì một đêm. Xin quay ngay ngựa lại cho! Tháo cứ tế ngựa đi. Đi được vài bước, rút gươm ra, quay ngựa trở lại, gọi Lã Bá Sa hỏi: - Ai đi đằng sau ông đấy? Sa quay đầu lại xem, Tháo chém ngay, Sa ngã xuống đất chết. Cung cả sợ hỏi rằng: - Lúc nãy nhầm đã đành. Bây giờ sao lại đang tay như thế? Tháo nói: - Bá Sa về nhà thấy nhiều người chết, tất nhiên không để yên, nếu đem người đi đuổi thì ta bị vạ ngay. Cung nói: - Biết rằng mình nhầm rồi, lại còn cố ý giết người nữa, thực là đại bất nghĩa! Tháo nói: - Thà rằng ta phụ người còn hơn để người phụ ta. Trần Cung thấy Tào Tháo là kẻ bất nghĩa nên nửa đêm lén cưỡi ngựa bỏ đi. Tào Tháo đi suốt đêm về đến Trần Lưu thì tìm thấy bố là Tào Tung, thuật lại sự tình với bố, muốn đem gia tài bán đi để mộ nghĩa binh. Tào Tung nói: - Gia tư nhà ta không có mấy tí. Cha e không đủ để kham nổi việc lớn. Ở đây có ông Vệ Hoàng, là người khinh tài trọng nghĩa, nhà giàu, nếu được ông ấy giúp thì con có thể mưu được việc lớn. Tào Tháo bèn gặp Vệ Hoàng nhờ được giúp đỡ. Vệ Hoàng vui vẻ giúp Tào Tháo, cho tiền mua ngựa, may áo giáp, rèn binh khí để chiêu mộ binh sĩ. Vốn liếng khi khởi nghiệp của Tào Tháo chỉ có thế. Sau này Tào Tháo còn phải núp dưới bóng Viên Thiệu mới bảo toàn được lực lượng. Nhưng cái đầu của Tào Tháo cao hơn Viên Thiệu một bậc. Khi được phong chức ở huyện Hứa Xương, Tào Tháo liền đón Hiến Đế về huyện Hứa và đổi tên là Hứa Đô. Từ đấy, Tào Tháo mượn danh vua tập hợp lực lượng, đe nẹt chư hầu và nhanh chóng trở thành Thừa tướng. Tào Tháo mượn danh vua Hiến Đế mà có đất Trung nguyên, có quân đội hùng mạnh để đánh Đông, dẹp Bắc. Các DN nhà nước cũng mượn danh Nhà nước mà có đất đai, vị trí kinh doanh đẹp, được ưu tiên vay vốn ngân hàng, khi không trả được nợ thì Nhà nước xoá nợ cho. Vì thế mà Giáo sư Thành Quân Ức gọi đó là DN Tào Tháo. Tào Tháo mượn danh Hiến Đế để gây dựng lực lượng, nhân danh vua để cấp đất, thu tô, mộ lính, vì thế quân có hàng trăm vạn, lương thực có tới hàng nghìn kho. Nhưng Tào Tháo không làm gì cho Hiến Đế cả mà chỉ làm cho mình, gây dựng sự nghiệp riêng, nắm lấy thực quyền, xưng vương và áp chế nhà vua. Các DN nhà nước của Trung Quốc cũng mượn danh Nhà nước mà có đất, có tiền, thậm chí còn được độc quyền xuất nhập khẩu, nhưng nhiều DN không làm gì cho nhà nước cả. Họ làm giàu cho họ còn đồng vốn Nhà nước bỏ ra bao nhiêu cũng mất hút bấy nhiêu cuối cùng là các DN Tào Tháo nợ ngân hàng nhà nước tới hàng mấy trăm nghìn tỷ đồng không sao trả được và Nhà nước lại phải xoá nợ cho. Các DN nhà nước vay vốn của Nhà nước để kinh doanh, thế chấp bằng đất đai, nhà xưởng, mà cả hai thứ này lại cũng là tài sản của Nhà nước. Như vậy, khác gì con mượn ô tô của bố làm tài sản để thế chấp, vay tiền của mẹ. Khi con không trả được nợ thì ôtô của bố đấy, mẹ cứ thu đi, con chẳng mất cái gì cả. Một cơ chế kinh doanh như thế mà đòi có hiệu quả thì đúng là nằm mơ giữa ban ngày. Khi người ta không kinh doanh bằng đồng vốn của mình thì chủ DN không bị lợi tức thúc bách. Trái lại DN kinh doanh càng thua lỗ thì giám đốc càng giàu to. Trong các DN Tào Tháo, ai kinh doanh thua lỗ ấy mới là người khôn, còn tính toán để kinh doanh có lãi đóng tiền vào kho bạc nhà nước là người dại. Một nền kinh tế lấy các DN Tào Tháo làm chủ đạo, làm đội chủ lực thì đó không phải là một nền kinh tế thị trường và mãi mãi không có kinh tế thị trường. Khi Nhà nước Trung Quốc nhận ra rằng cỗ xe DN Tào Tháo quá rệu rã rồi, không thể kham nổi sứ mệnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nữa thì Nhà nước Trung Quốc kiên quyết cải cách các DN nhà nước, bằng nhiều hình thức khác nhau, cổ phần hoá, bán DN, cho thuê DN. Nhà nước Trung Quốc đã thành công trong việc nhanh chóng cải cách hơn hai triệu DN Tào Tháo, nhờ thế mà nền kinh tế của Trung Quốc đã phát triển ở mức cao nhất thế giới như hiện nay. Cùng với việc cải cách các DN Tào Tháo, Nhà nước Trung Quốc còn tích cực cải cách thể chế, với khẩu hiệu: Chính xí khu biệt (chính quyền và DN tách riêng rẽ) nghĩa là không có bộ chủ quản, nghĩa là ít chính phủ trong kinh doanh và nhiều kinh doanh trong chính phủ và đó là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Trung Quốc. Trộm nghĩ nền kinh tế của VN ta cũng có không ít DN Tào Tháo. Nếu không thay máu cho loại DN này thì nền kinh tế của nước ta còn khó khăn. |
Thứ Tư, 14 tháng 11, 2007
Doanh nghiệp Tào Tháo
Bảy sai lầm tài chính thường gặp nhất
Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2007
Các siêu sao đầu tư hàng đầu thế giới
Các siêu sao đầu tư hàng đầu thế giới
Thứ năm, 08.11.2007, 06:32am (GMT+7)
Peter Lynch
Trong thời gian Peter Lynch làm giám đốc quỹ Fidelity’s Magellan từ những năm 1977 đến năm 1990, công ty quản lý đầu tư này đã đạt được lợi nhuận trung bình hàng năm như trong mơ 29%. Chưa từng có một nhà lãnh đạo nào trong lịch sử ngành này có thể điều hành một công ty có quy mô khổng lồ tương đương (trị giá vào những năm 1990 là 14 tỉ đô) hoạt động trôi chảy và thành công đến thế trong khoảng thời gian dài đến như vậy. Peter Lynch cho rằng sự thành công này chỉ bắt nguồn từ một vài điều hết sức giản đơn, chủ yếu là kĩ năng tìm kiếm các cơ hội đầu tư trong lĩnh vực thân quen của bạn. Một ví dụ ông đưa ra: Hãy quan sát những cổ phiếu của công ty mà bạn và gia đình bạn từng có những đánh giá tốt thông qua tiêu dùng sản phẩm của họ. Peter cũng là người theo đuổi việc đầu tư vào những yếu tố đơn giản nhất trong kinh doanh. Phương pháp này của ông đã trở nên rất nổi tiếng: “Nên tiến vào các lĩnh vực kinh doanh mà bất kì một tên ngốc nào cũng có thể điều hành được công ty – bởi sớm muộn gì sẽ có một tên ngốc nào đó điều hành nó”.
Sau khi đã xác định được công ty tiềm năng, Lynch quan tâm đến ba chỉ tiêu đánh giá: lợi nhuận, giá cả và mô hình kinh doanh. Lynch tỏ ra thích thú với các công ty có nguồn vốn lớn và chỉ số P/E nằm ngay dưới tỉ suất lợi tức dự đoán. Ông này cũng ưa chuộng các công ty có tiềm năng phát triển lớn, nhưng đồng thời cũng đưa ra lời cảnh báo phải hết sức thận trọng trước các tốc độ tăng trưởng không bền vững. Theo tổng kết của một số nhà phân tích trên The Economic Times Online, Lynch thường tìm đến với các tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ 15% đến dưới 30%. Tuy nhiên đối với Lynch, các yếu tố tài chính cơ bản khác đứng ở vị trí thứ hai trong những tiêu chuẩn đánh giá trước khi ông quyết định đầu tư. Đầu tiên Lynch muốn tự mình tìm hiểu để có cái nhìn sâu sắc đối với công ty đó. Ông thăm quan các trung tâm mua sắm để quan sát hoạt động của các cửa hàng, xem xem những nhãn hiệu hàng hóa nào đang được bán và bán ở mức giá như thế nào. Sau đó ông xem xét đến bảng cân đối kể toán.
Cuốn sách nổi tiếng của Lynch. One Up On Wall Street, được xuất bản năm 1989. Nhưng cho đến nay nó vẫn không mất đi giá trị. Cuốn sách này đã đề cập đến khái niệm “ten-beggars” – những cổ phiếu có thể đem về gấp 10 lần số tiền mà nhà đầu tư bỏ ra trong vòng 5 năm. Về tổng thể, lời khuyên mà Lynch đưa ra với khái niệm hấp dẫn này là: Tránh đầu tư vào các công ty lớn, lâu đời mà hãy lựa chọn các tên tuổi ít tiếng tăm hơn. Cũng giống như nhiều tên tuổi lẫy lừng khác trong giới đầu tư chứng khoán, Lynch là một nhà đầu tư “quái dị”, luôn mải mê theo đuổi các cổ phiếu mà tất cả mọi người đã gạt khỏi bộ nhớ.
Một lời khuyên cuối cùng mang phong cách Lynch dành cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ: Nghĩ về cổ phiếu của mình theo cách bạn chăm sóc con bạn. Thời gian của bạn là có hạn và bạn không thể để mắt đến nhiều đứa con cùng một lúc. Lynch cho rằng sự đa dạng hóa danh mục đầu tư của bạn chỉ nên dừng ở con số 5 để bạn có thể theo dõi được cẩn thận.
Eddie Lampert: Warren Buffet thứ hai?
Eddie Lampert là người quá nhạy cảm với vấn đề an ninh. Ông từng bị bắt cóc sau khi rời khỏi nhiệm sở năm 2003 và bị giữ làm con tin trong hai ngày. Tuy nhiên, chính điều đó đã cho thấy sự tháo vát, đầu óc linh hoạt và khả năng tìm lối thoát khỏi rắc rối của con người này bởi ngay sau khi được trả về, ông đã lại bắt tay vào công việc. Thế nhưng Lampert không chỉ được biết đến với khả năng hồi phục dẻo dai đó: Trong giới đầu tư chứng khoán hiện nay, Lampert được mệnh danh là một Warren Buffet mới.
Từ 28 triệu đô năm 1988, giá trị của Quỹ đầu tư tư nhân của ông, ESL Investments hiện nay đã tăng lên đến con số khổng lồ 9 tỉ đô, trong đó lợi nhuận bình quân năm là 29% so với 25% của Berkshire Hathaway do Buffet điều hành từ năm 1965 (thời gian dài hơn). Một trong những thành tích tuyệt vời nhất của Lampert là việc ông đã mua được 53% cổ phần của Kmart. Sau khi phá sản, gã khổng lồ trong ngành bán lẻ này đã sáp nhập với Sears và thực sự là một quỹ tiền mặt đáng nể lên đến 3 tỉ đô.
Lampert luôn có những ông thầy dày dặn kinh nghiệm như cựu giám đốc của Goldman Sachs, Robin Rubin và nhà kinh tế đã giành giải Nobel, James Tobin. Tuy nhiên người đầu tiên gợi lên niềm đam mê của Lampert đối với đầu tư chứng khoán là bà của ông khi bà thường đọc cho cậu bé Lampert 10 tuổi những lời phát biểu của các nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên tạp chí. Lampert cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến Warren Buffet, phân tích từng lí do khiếnWarren đi đến các quyết định đầu tư của mình. Xu hướng lựa chọn của Warren Buffet thường là các công ty đã trưởng thành, dễ nắm bắt và có dòng vốn mạnh. Ông quan tâm đến lợi nhuận dài hạn hơn là các cú tăng giảm bất thường trong ngắn hạn. Lampert từ từ tích lũy cổ phiếu từ khi cổ phần còn không đáng kể cho đến khi ông giành được số cổ phần ưu thế và giành quyền điều hành công ty – giống như cách ông đã làm với Kmart. BusinessWeek nhận xét về con người này: “Chẳng có thứ gì khiến Lampert thích thú trong việc kiểm soát hơn là cách làm thể nào để sử dụng nguồn vốn”. Từng đôla phải làm sao để sinh lãi tối đa và các công ty của Lampert thường sử dụng tiền mặt để mua lại cổ phiếu hơn là các khoản vốn khác.
Tuy nhiên, ngoại trừ những nét tương đồng đó, Lampert không phải là bản sao củaWarren . Ông quyết đoán hơn trong công việc quản lý của mình và sẵn sàng nhắm đến các công ty đang vận hành không tốt vì các công ty này sẽ đem lại doanh thu lớn khi nó đảo chiều. Các nhân viên thường nói đến sự nhanh nhạy nhận biết rủi ro của ông cũng như “năng lực kì lạ của Lampert khi có thể nhìn xuyên thấu khả năng các khoản đầu tư kết hợp với nhau”.
Warren Buffet
Nếu như khởi đầu sự nghiệp vào năm 1954 với 10000 đô đầu tư vào quỹ Templeton Growth của Sir John Templeton – tiên phong của lĩnh vực chứng khoán – thì bây giờ một nhà đầu tư sẽ có trong tay khoản tiền 7 triệu đô trong khi cùng khoản đầu tư ban đầu như vậy, một nhà môi giới của S&P chỉ có thế đem lại con số khiêm tốn 500000 đô. Thật hấp dẫn! Và điều đó cũng có nghĩa là anh ta đã có tên trong danh sách những nhà đầu tư xuất chúng (guru). Thế nhưng, 11 năm sau, cũng vẫn 10000 đó, nhà đầu tư của chúng ta đưa vào Berkshire Hathaway – sau khi hãng này chuyển sang sự tiếp quản của Warren Buffet – thì bây giờ anh ta đã có thể ngồi trên một đống tiền trị giá trên 50 triệu đô.
Buffet là một nhà đầu tư kiên trì và rất cẩn trọng. Ông hoàn toàn phớt lờ quả bong bóng công nghệ và thậm chí đến giờ vẫn không mua vào bất kì một cổ phiếu công nghệ hay internet nào, kể cả của Microsoft. Ông nói đầu tư vào loại cổ phiếu này sẽ có thể rất tốt nhưng ông đặt câu hỏi rằng tại sao “ông nên đầu tư vào nó”? Buffet thích những cổ phiếu mà ông có thể “thấy” và do đó, có thể hiểu được nó. Ví dụ như Coca-cola. Ông tin rằng “việc dự đoán sức mạnh của Coke trên thị trường nước giải khát dễ dàng hơn nhiều so với Microsoft trong thế giới công nghệ”.
Không giống như Templeton, có vẻ Buffet tin rằng ông vẫn có thể tìm thất lợi nhuận ở thị trường Hoa Kì. Ví dụ như hồi đầu năm nay, ông đã mua lại PacifiCorp từ Scottish Power. Hành động này được coi là một chiến lược đầu tư mới của Buffet, “mua lại cả công ty chứ không đơn giản chỉ là nắm giữ chút ít cổ phiếu”. Hồi tháng tư, Buffet cũng đã mua một khối lượng cổ phiếu lớn của Anheuser-Busch, nhà sản xuất bia lớn nhất thế giới và là chủ thương hiệu bia nổi tiếng Budweiser. Danh tiếng của Buffet đã đi trước ông một bước bởi ngay khi ông tuyên bố quyết định đầu tư này của mình, giá cổ phiếu hãng này đã tăng 6%.
Cùng với khả năng “nhìn thấy” cổ phiếu của mình, Buffet thích được nẳm rõ về các cổ phiếu đó như là một người thân thiết. Ông từng so sánh việc đa dạng hóa thái quá danh mục đầu tư của mình với việc có một hậu cung với 40 cung phi – “bạn sẽ chẳng bao giờ biểt rõ từng người trong số họ”. Thực sự cổ phiếu đối với Buffet giống như những người bạn: Ông hiểu chúng và giữ chúng trong thời gian dài, hay tối thiểu là cho đến khi nào chúng vượt qua được các bài kiểm tra về tốc độ tăng trưởng của ông mà không rơi vào tình trạng overprice (giá thị trường cao hơn giá trị nội tại). “Chìa khóa của Buffet là phải nghĩ bạn cũng chính là một chủ sở hữu công ty đó”.
Buffet cũng tỏ ra rất nghi ngờ tương lai của đông đôla. Năm ngoái ông đã đầu tư đến 21 tỉ đô nhưng không phải bằng đồng đôla. Với việc sử dụng các đồng tiền khác cho các khoản đầu tư của mình, ông đã thu được 2,6 tỉ đô trong khi với tình trạng đồng đôla như hiện nay, ông có thể thua lỗ đến 1 tỉ. Thế nhưng người đàn ông giàu thứ hai thế giới, guru nổi tiếng nhất thế giới này “vẫn không nản lòng và tiếp tục định hướng cho công ty đầu tư Berkshire Hathaway của mình đối mặt với tình trạng suy yếu của đồng đôla” (Theo Patrick Hosking và Gabriel Rozenberg trên The Times). Tuy nhiên hiện nay, Buffet vẫn đang lúng túng trong việc xác định đối tượng của mình: nhắm vào các loại chứng khoán đôla hay không? Tại Đại hội cổ đông của Berkshire Hathaway hồi tháng năm, Buffet nói: “Hiện công ty đang có nhiều tiền hơn chất xám, và chúng ta hi vọng là phải làm được cái gì đó với khoản tiền này”.
Benjamin Graham
Từ năm 1936 đến năm 1956, Benjamin đã trở thành một kỉ lục gia trong việc lựa chọn cổ phiếu. Trong khoảng thời gian 20 năm đó, quỹ tương hỗ của ông đã thu được lợi nhuận tối thiếu 14,7% trong khi con số này của toàn thị trường chỉ là 12%. Nghe thì có vẻ không mấy chênh lệch song một khoản đầu tư 10000 đô vào quỹ của Graham có thể đem lại nhiều hơn khoảng 60000 đô so với mức trung bình trong thời gian có hai thập kỉ.
Vậy làm thế nào để Graham có thể lựa chọn cổ phiếu như vậy? Ông là nhà đầu tư quan tâm đến các giá trị cơ bản. Cách tiếp cận giá trị tài sản thuần (NCAV) của Graham “khá xa lạ đối với các nhà đầu tư cá nhân” nhưng lại rất thành công với riêng ông. Graham thường mua bán cổ phiếu khi chúng đang được giao dịch ở mức thấp hơn giá trị ước tính của chúng. Thay vì sử dụng giá trị ghi sổ vốn thường được dùng, Graham muốn biết nếu công ty bị thanh lý ngay ngày mai thì giá trị của công ty lúc đó sẽ là bao nhiêu. Để có thể tìm ra điều này, Graham chỉ xem xét các tài sản hiện hành (current assets) như tiền mặt, hàng tồn kho và các hóa đơn thu tiền…Ông hoàn toàn bỏ qua những tài sản dài hạn khác như nhà xưởng và bằng phát minh sáng chế. Ông cũng không tính đến các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn. Mục tiêu của Graham là tìm kiếm và mua cổ phiếu của những công ty đang giao dịch với giá trị bằng 2/3 hoặc thấp hơn nữa giá trị tài sản thuần của họ.
Ông tỏ ra rất tin tưởng vào các khoản loại trừ nhiều như vậy của mình vì ông cho rằng cái các nhà đầu tư cần chính là mức độ an toàn – “một mức giá thấp có nghĩa là bạn vẫn lời kể cả khi một vài điểm trong phân tích của bạn không chính xác. Chiến lược này khiến cho ông mất nhiều thời gian hơn trong việc tiến hành các nghiên cứu và phân tích so với các cộng sự của mình, bởi một số nghiên cứu có thể sẽ trở thành thừa thãi nếu giá cổ phiếu thực tế đã đủ rẻ. Ví dụ như một công ty, theo tài sản hiện hành, có giá cổ phiếu là 12 đô và không có khoản nợ nào, bạn sẽ có mức độ an toàn cao nếu bạn mua cổ phiếu đó với giá 7 đô, bất kể hoạt động kinh doanh của công ty đó đang phức tạp đến thế nào.
“Một nhà đầu tư đậm chất Graham là một người sẵn sàng mua cổ phiếu của những công ty mà tất cả những người khác cho là tệ hại”. Cũng giống như Lynch và Templeton, ông tạp trung vào những công ty mà toàn bộ thị trường đã gạt sang bên. Cách làm này cho phép ông mua được cổ phiếu với giá rẻ khi ông biết chắc rằng giá trị thực tế của công ty đủ để bù đắp lại khoản đầu tư của ông, kể cả khi công ty này phá sản. Đây quả thực là một chiến lược đầu tư thú vị nhưng không dễ dàng gì bởi bản thân Graham cũng đã mất rất nhiều công sức mới tìm ra và tiếp tục theo đuổi nó. Một trong những lựa chọn đầu tiên của Graham là Savold Tire khi ông mua cổ phiếu công ty này ngay trong ngày đầu tiên nó lên sàn và sau đó lợi nhuận tăng chóng mặt lên 250% chỉ trong một thời gian ngắn. Thế nhưng thay vì bán ra để thu về khoản lợi nhuận ấn tượng này, Graham tiếp tục nắm giữ cổ phiếu này. Sáu tháng sau, công ty vướng vào một vụ lừa đảo doanh nghiệp và cổ phiếu ngay lập tức trở thành giấy vụn. Tuy nhiên với chiến lược tiếp cận NCAV của mình – nhắm tới mục tiêu đảm bảo không mất trắng khi công ty bị vỡ nợ - Graham vẫn thu về một khoản tiền đủ lớn so với khoản vốn bỏ ra.
Sir John Templeton
Nhà đầu tư nổi tiếng này đã 92 tuổi và năm 1992 cũng đã bán hệ thống các quỹ đầu tư của mình với giá 912 triệu đô, song điều đó không có nghĩa là Templeton không biết một đôi điều về đầu tư. Tạp chí Money đã từng mệnh danh Templeton “có thể là người lựa chọn cổ phiếu toàn cầu tài ba nhất của thế kỉ”. Cho đến nay, con người này vẫn thường xuyên theo dõi những biến động trên thị trường. Sự tài ba của con người này đã được chứng minh rõ nét hơn bao giờ hết trong cuộc khủng hoảng mùa hè vừa qua của Hoa Kì. Suốt những năm gần đây, Templeton thường xuyên tỏ ra lo ngại về chất lượng của các khoản đầu tư trên thị trường và nhắc đi nhắc lại tình trạng tăng trưởng bong bóng của ngành bất động sản. Ông cũng đã cảnh báo quả bong bóng sẽ sớm nổ - trên thực tế thời điểm này chính là mùa hè vừa qua.
Hiện tại, Templeton đang làm việc toàn thời gian trong vai trò của một nhà từ thiện, mỗi năm ông tặng khoảng 40 triệu đô cho các quỹ từ thiện song ông vẫn hết sức tận tụy với năng khiến thiên bẩm của mình “nghiên cứu về đầu tư chứng khoán”. Cũng nhờ có các nghiên cứu chuyên sâu về thị trường, việc hoạch định tính toán thời gian của Templeton luôn hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Ngay từ giai đoạn đầu tiên của thời kì cổ phiếu ngành công nghệ và internet bùng nổ những năm 1990, Templeton đã có được một vị trí đáng kể trên thị trường cổ phiếu của lĩnh vực này và kiếm về cho mình cả một gia tài.
Thế nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao ông có thể chọn được đúng những cổ phiếu sẽ đem lại lợi nhuận cho ông? Nguyên tắc đầu tiên của Templeton – giờ cũng đã trở nên quá quen thuộc với các nhà đầu tư chứng khoán toàn cầu – là “đi ngược lại đám đông”.
Theo quan điểm của Templeton, các cổ phiếu không phổ biến không đồng nghĩa với cổ phiếu tồi. Chỉ đơn giản là chúng không “hợp thời trang” và vì thế giá của chúng không tốt. Tìm ra được các cổ phiếu này chính là tiêu chuẩn chủ đạo trong các quyết định đầu tư của Templeton. Bằng cách theo dõi quá trình lên sàn của công ty (mức giá cổ phiếu và khối lượng cổ phiếu phát hành), sau đó tính toán giá trị thực chất (điều mà Templeton tin là tài sản của công ty và là giá trị thị trường đúng đắn), ông chấm ra những cổ phiếu đang được giao dịch quá rẻ. Câu danh ngôn nổi tiếng nhất của Templeton trong trang web của mình chỉ ra “một lời khuyên mẫu mực về mua cổ phiếu chính là ‘Mua rẻ, bán đắt’ ”. Thế nhưng Templeton không chỉ đưa ra nguyên tắc này mà còn thực hiện nó ở mức tối đa – ông chọn mua vào cổ phiếu của các công ty, các ngành và thậm chí cả các quốc gia đang ở đáy của thị trường chứng khoán, hay “có đứng vị trí quán quân về sự bi quan”.
Công đoạn tiếp theo trong quá trình đầu tư của Templeton là đánh giá rủi ro. Cổ phiếu có thể ở mức giá rất “hời”, song rủi ro nằm ở chỗ “ai đó có thể làm một việc gì đó ngu ngốc”. Trong nhiều năm, sự kết hợp giữa đánh giá giá trị và rủi ro đã dẫn đường cho ông khi đầu tư trên phạm vi toàn thế giới. Ông từng nói với một phóng viên, nếu cho ông đưa ra một lời phê bình đối với Warren Buffet thì đó sẽ là “Ông ta là người có tầm nhìn hạn hẹp. Lẽ ra ông ta đã có thể giàu hơn nữa nếu chịu bỏ thời gian và công sức với các thị trường nước ngoài”. Trong khi đó, hoàn toàn ngược lại, Templeton tỏ ra rất thích thú với việc đầu tư ở nước ngoài. Ví dụ như hiện nay, quốc gia đang lọt vào mắt xanh của Templeton là Hàn Quốc, song ông cũng đồng thời tìm kiếm các cơ hội đáng giá khác ở Trung Quốc, Canada và Nga.
Lời khuyên của ông đối với các nhà đầu tư nhỏ là Hãy tiếp cận thị trường giống như cách ông làm “Đầu tư vào một quỹ tương hỗ có sự quản lý tốt và tập trung vào các nước hay các lĩnh vực có giá cổ phiếu không quá cao”. Một nơi duy nhất chắc chắn không thể nằm trong danh sách các nước nói trên của ông? Hoa Kì! Templeton nói với phóng viên rằng ông không thể nhớ nổi “cách đây bao lâu rồi một nhà đầu tư có thể cần mẫn đi tìm một món hời trên thị trường này
Thứ năm, 08.11.2007, 06:32am (GMT+7)
Nếu bạn muốn gặt hái thành công trong các khoản đầu tư của mình, một lời khuyên rất đơn giản nhưng không kém phần quý báu là Hãy theo chân các chuyên gia. Sau đây là những cái nhìn tổng quan vào chiến lược của năm nhà đầu tư huyền thoại trong lịch sử chứng khoán.
Trong thời gian Peter Lynch làm giám đốc quỹ Fidelity’s Magellan từ những năm 1977 đến năm 1990, công ty quản lý đầu tư này đã đạt được lợi nhuận trung bình hàng năm như trong mơ 29%. Chưa từng có một nhà lãnh đạo nào trong lịch sử ngành này có thể điều hành một công ty có quy mô khổng lồ tương đương (trị giá vào những năm 1990 là 14 tỉ đô) hoạt động trôi chảy và thành công đến thế trong khoảng thời gian dài đến như vậy. Peter Lynch cho rằng sự thành công này chỉ bắt nguồn từ một vài điều hết sức giản đơn, chủ yếu là kĩ năng tìm kiếm các cơ hội đầu tư trong lĩnh vực thân quen của bạn. Một ví dụ ông đưa ra: Hãy quan sát những cổ phiếu của công ty mà bạn và gia đình bạn từng có những đánh giá tốt thông qua tiêu dùng sản phẩm của họ. Peter cũng là người theo đuổi việc đầu tư vào những yếu tố đơn giản nhất trong kinh doanh. Phương pháp này của ông đã trở nên rất nổi tiếng: “Nên tiến vào các lĩnh vực kinh doanh mà bất kì một tên ngốc nào cũng có thể điều hành được công ty – bởi sớm muộn gì sẽ có một tên ngốc nào đó điều hành nó”.
Sau khi đã xác định được công ty tiềm năng, Lynch quan tâm đến ba chỉ tiêu đánh giá: lợi nhuận, giá cả và mô hình kinh doanh. Lynch tỏ ra thích thú với các công ty có nguồn vốn lớn và chỉ số P/E nằm ngay dưới tỉ suất lợi tức dự đoán. Ông này cũng ưa chuộng các công ty có tiềm năng phát triển lớn, nhưng đồng thời cũng đưa ra lời cảnh báo phải hết sức thận trọng trước các tốc độ tăng trưởng không bền vững. Theo tổng kết của một số nhà phân tích trên The Economic Times Online, Lynch thường tìm đến với các tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ 15% đến dưới 30%. Tuy nhiên đối với Lynch, các yếu tố tài chính cơ bản khác đứng ở vị trí thứ hai trong những tiêu chuẩn đánh giá trước khi ông quyết định đầu tư. Đầu tiên Lynch muốn tự mình tìm hiểu để có cái nhìn sâu sắc đối với công ty đó. Ông thăm quan các trung tâm mua sắm để quan sát hoạt động của các cửa hàng, xem xem những nhãn hiệu hàng hóa nào đang được bán và bán ở mức giá như thế nào. Sau đó ông xem xét đến bảng cân đối kể toán.
Cuốn sách nổi tiếng của Lynch. One Up On Wall Street, được xuất bản năm 1989. Nhưng cho đến nay nó vẫn không mất đi giá trị. Cuốn sách này đã đề cập đến khái niệm “ten-beggars” – những cổ phiếu có thể đem về gấp 10 lần số tiền mà nhà đầu tư bỏ ra trong vòng 5 năm. Về tổng thể, lời khuyên mà Lynch đưa ra với khái niệm hấp dẫn này là: Tránh đầu tư vào các công ty lớn, lâu đời mà hãy lựa chọn các tên tuổi ít tiếng tăm hơn. Cũng giống như nhiều tên tuổi lẫy lừng khác trong giới đầu tư chứng khoán, Lynch là một nhà đầu tư “quái dị”, luôn mải mê theo đuổi các cổ phiếu mà tất cả mọi người đã gạt khỏi bộ nhớ.
Một lời khuyên cuối cùng mang phong cách Lynch dành cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ: Nghĩ về cổ phiếu của mình theo cách bạn chăm sóc con bạn. Thời gian của bạn là có hạn và bạn không thể để mắt đến nhiều đứa con cùng một lúc. Lynch cho rằng sự đa dạng hóa danh mục đầu tư của bạn chỉ nên dừng ở con số 5 để bạn có thể theo dõi được cẩn thận.
Eddie Lampert: Warren Buffet thứ hai?
Eddie Lampert là người quá nhạy cảm với vấn đề an ninh. Ông từng bị bắt cóc sau khi rời khỏi nhiệm sở năm 2003 và bị giữ làm con tin trong hai ngày. Tuy nhiên, chính điều đó đã cho thấy sự tháo vát, đầu óc linh hoạt và khả năng tìm lối thoát khỏi rắc rối của con người này bởi ngay sau khi được trả về, ông đã lại bắt tay vào công việc. Thế nhưng Lampert không chỉ được biết đến với khả năng hồi phục dẻo dai đó: Trong giới đầu tư chứng khoán hiện nay, Lampert được mệnh danh là một Warren Buffet mới.
Từ 28 triệu đô năm 1988, giá trị của Quỹ đầu tư tư nhân của ông, ESL Investments hiện nay đã tăng lên đến con số khổng lồ 9 tỉ đô, trong đó lợi nhuận bình quân năm là 29% so với 25% của Berkshire Hathaway do Buffet điều hành từ năm 1965 (thời gian dài hơn). Một trong những thành tích tuyệt vời nhất của Lampert là việc ông đã mua được 53% cổ phần của Kmart. Sau khi phá sản, gã khổng lồ trong ngành bán lẻ này đã sáp nhập với Sears và thực sự là một quỹ tiền mặt đáng nể lên đến 3 tỉ đô.
Lampert luôn có những ông thầy dày dặn kinh nghiệm như cựu giám đốc của Goldman Sachs, Robin Rubin và nhà kinh tế đã giành giải Nobel, James Tobin. Tuy nhiên người đầu tiên gợi lên niềm đam mê của Lampert đối với đầu tư chứng khoán là bà của ông khi bà thường đọc cho cậu bé Lampert 10 tuổi những lời phát biểu của các nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên tạp chí. Lampert cũng thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến Warren Buffet, phân tích từng lí do khiến
Tuy nhiên, ngoại trừ những nét tương đồng đó, Lampert không phải là bản sao của
Warren Buffet
Nếu như khởi đầu sự nghiệp vào năm 1954 với 10000 đô đầu tư vào quỹ Templeton Growth của Sir John Templeton – tiên phong của lĩnh vực chứng khoán – thì bây giờ một nhà đầu tư sẽ có trong tay khoản tiền 7 triệu đô trong khi cùng khoản đầu tư ban đầu như vậy, một nhà môi giới của S&P chỉ có thế đem lại con số khiêm tốn 500000 đô. Thật hấp dẫn! Và điều đó cũng có nghĩa là anh ta đã có tên trong danh sách những nhà đầu tư xuất chúng (guru). Thế nhưng, 11 năm sau, cũng vẫn 10000 đó, nhà đầu tư của chúng ta đưa vào Berkshire Hathaway – sau khi hãng này chuyển sang sự tiếp quản của Warren Buffet – thì bây giờ anh ta đã có thể ngồi trên một đống tiền trị giá trên 50 triệu đô.
Buffet là một nhà đầu tư kiên trì và rất cẩn trọng. Ông hoàn toàn phớt lờ quả bong bóng công nghệ và thậm chí đến giờ vẫn không mua vào bất kì một cổ phiếu công nghệ hay internet nào, kể cả của Microsoft. Ông nói đầu tư vào loại cổ phiếu này sẽ có thể rất tốt nhưng ông đặt câu hỏi rằng tại sao “ông nên đầu tư vào nó”? Buffet thích những cổ phiếu mà ông có thể “thấy” và do đó, có thể hiểu được nó. Ví dụ như Coca-cola. Ông tin rằng “việc dự đoán sức mạnh của Coke trên thị trường nước giải khát dễ dàng hơn nhiều so với Microsoft trong thế giới công nghệ”.
Không giống như Templeton, có vẻ Buffet tin rằng ông vẫn có thể tìm thất lợi nhuận ở thị trường Hoa Kì. Ví dụ như hồi đầu năm nay, ông đã mua lại PacifiCorp từ Scottish Power. Hành động này được coi là một chiến lược đầu tư mới của Buffet, “mua lại cả công ty chứ không đơn giản chỉ là nắm giữ chút ít cổ phiếu”. Hồi tháng tư, Buffet cũng đã mua một khối lượng cổ phiếu lớn của Anheuser-Busch, nhà sản xuất bia lớn nhất thế giới và là chủ thương hiệu bia nổi tiếng Budweiser. Danh tiếng của Buffet đã đi trước ông một bước bởi ngay khi ông tuyên bố quyết định đầu tư này của mình, giá cổ phiếu hãng này đã tăng 6%.
Cùng với khả năng “nhìn thấy” cổ phiếu của mình, Buffet thích được nẳm rõ về các cổ phiếu đó như là một người thân thiết. Ông từng so sánh việc đa dạng hóa thái quá danh mục đầu tư của mình với việc có một hậu cung với 40 cung phi – “bạn sẽ chẳng bao giờ biểt rõ từng người trong số họ”. Thực sự cổ phiếu đối với Buffet giống như những người bạn: Ông hiểu chúng và giữ chúng trong thời gian dài, hay tối thiểu là cho đến khi nào chúng vượt qua được các bài kiểm tra về tốc độ tăng trưởng của ông mà không rơi vào tình trạng overprice (giá thị trường cao hơn giá trị nội tại). “Chìa khóa của Buffet là phải nghĩ bạn cũng chính là một chủ sở hữu công ty đó”.
Buffet cũng tỏ ra rất nghi ngờ tương lai của đông đôla. Năm ngoái ông đã đầu tư đến 21 tỉ đô nhưng không phải bằng đồng đôla. Với việc sử dụng các đồng tiền khác cho các khoản đầu tư của mình, ông đã thu được 2,6 tỉ đô trong khi với tình trạng đồng đôla như hiện nay, ông có thể thua lỗ đến 1 tỉ. Thế nhưng người đàn ông giàu thứ hai thế giới, guru nổi tiếng nhất thế giới này “vẫn không nản lòng và tiếp tục định hướng cho công ty đầu tư Berkshire Hathaway của mình đối mặt với tình trạng suy yếu của đồng đôla” (Theo Patrick Hosking và Gabriel Rozenberg trên The Times). Tuy nhiên hiện nay, Buffet vẫn đang lúng túng trong việc xác định đối tượng của mình: nhắm vào các loại chứng khoán đôla hay không? Tại Đại hội cổ đông của Berkshire Hathaway hồi tháng năm, Buffet nói: “Hiện công ty đang có nhiều tiền hơn chất xám, và chúng ta hi vọng là phải làm được cái gì đó với khoản tiền này”.
Benjamin Graham
Từ năm 1936 đến năm 1956, Benjamin đã trở thành một kỉ lục gia trong việc lựa chọn cổ phiếu. Trong khoảng thời gian 20 năm đó, quỹ tương hỗ của ông đã thu được lợi nhuận tối thiếu 14,7% trong khi con số này của toàn thị trường chỉ là 12%. Nghe thì có vẻ không mấy chênh lệch song một khoản đầu tư 10000 đô vào quỹ của Graham có thể đem lại nhiều hơn khoảng 60000 đô so với mức trung bình trong thời gian có hai thập kỉ.
Vậy làm thế nào để Graham có thể lựa chọn cổ phiếu như vậy? Ông là nhà đầu tư quan tâm đến các giá trị cơ bản. Cách tiếp cận giá trị tài sản thuần (NCAV) của Graham “khá xa lạ đối với các nhà đầu tư cá nhân” nhưng lại rất thành công với riêng ông. Graham thường mua bán cổ phiếu khi chúng đang được giao dịch ở mức thấp hơn giá trị ước tính của chúng. Thay vì sử dụng giá trị ghi sổ vốn thường được dùng, Graham muốn biết nếu công ty bị thanh lý ngay ngày mai thì giá trị của công ty lúc đó sẽ là bao nhiêu. Để có thể tìm ra điều này, Graham chỉ xem xét các tài sản hiện hành (current assets) như tiền mặt, hàng tồn kho và các hóa đơn thu tiền…Ông hoàn toàn bỏ qua những tài sản dài hạn khác như nhà xưởng và bằng phát minh sáng chế. Ông cũng không tính đến các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn. Mục tiêu của Graham là tìm kiếm và mua cổ phiếu của những công ty đang giao dịch với giá trị bằng 2/3 hoặc thấp hơn nữa giá trị tài sản thuần của họ.
Ông tỏ ra rất tin tưởng vào các khoản loại trừ nhiều như vậy của mình vì ông cho rằng cái các nhà đầu tư cần chính là mức độ an toàn – “một mức giá thấp có nghĩa là bạn vẫn lời kể cả khi một vài điểm trong phân tích của bạn không chính xác. Chiến lược này khiến cho ông mất nhiều thời gian hơn trong việc tiến hành các nghiên cứu và phân tích so với các cộng sự của mình, bởi một số nghiên cứu có thể sẽ trở thành thừa thãi nếu giá cổ phiếu thực tế đã đủ rẻ. Ví dụ như một công ty, theo tài sản hiện hành, có giá cổ phiếu là 12 đô và không có khoản nợ nào, bạn sẽ có mức độ an toàn cao nếu bạn mua cổ phiếu đó với giá 7 đô, bất kể hoạt động kinh doanh của công ty đó đang phức tạp đến thế nào.
“Một nhà đầu tư đậm chất Graham là một người sẵn sàng mua cổ phiếu của những công ty mà tất cả những người khác cho là tệ hại”. Cũng giống như Lynch và Templeton, ông tạp trung vào những công ty mà toàn bộ thị trường đã gạt sang bên. Cách làm này cho phép ông mua được cổ phiếu với giá rẻ khi ông biết chắc rằng giá trị thực tế của công ty đủ để bù đắp lại khoản đầu tư của ông, kể cả khi công ty này phá sản. Đây quả thực là một chiến lược đầu tư thú vị nhưng không dễ dàng gì bởi bản thân Graham cũng đã mất rất nhiều công sức mới tìm ra và tiếp tục theo đuổi nó. Một trong những lựa chọn đầu tiên của Graham là Savold Tire khi ông mua cổ phiếu công ty này ngay trong ngày đầu tiên nó lên sàn và sau đó lợi nhuận tăng chóng mặt lên 250% chỉ trong một thời gian ngắn. Thế nhưng thay vì bán ra để thu về khoản lợi nhuận ấn tượng này, Graham tiếp tục nắm giữ cổ phiếu này. Sáu tháng sau, công ty vướng vào một vụ lừa đảo doanh nghiệp và cổ phiếu ngay lập tức trở thành giấy vụn. Tuy nhiên với chiến lược tiếp cận NCAV của mình – nhắm tới mục tiêu đảm bảo không mất trắng khi công ty bị vỡ nợ - Graham vẫn thu về một khoản tiền đủ lớn so với khoản vốn bỏ ra.
Sir John Templeton
Nhà đầu tư nổi tiếng này đã 92 tuổi và năm 1992 cũng đã bán hệ thống các quỹ đầu tư của mình với giá 912 triệu đô, song điều đó không có nghĩa là Templeton không biết một đôi điều về đầu tư. Tạp chí Money đã từng mệnh danh Templeton “có thể là người lựa chọn cổ phiếu toàn cầu tài ba nhất của thế kỉ”. Cho đến nay, con người này vẫn thường xuyên theo dõi những biến động trên thị trường. Sự tài ba của con người này đã được chứng minh rõ nét hơn bao giờ hết trong cuộc khủng hoảng mùa hè vừa qua của Hoa Kì. Suốt những năm gần đây, Templeton thường xuyên tỏ ra lo ngại về chất lượng của các khoản đầu tư trên thị trường và nhắc đi nhắc lại tình trạng tăng trưởng bong bóng của ngành bất động sản. Ông cũng đã cảnh báo quả bong bóng sẽ sớm nổ - trên thực tế thời điểm này chính là mùa hè vừa qua.
Hiện tại, Templeton đang làm việc toàn thời gian trong vai trò của một nhà từ thiện, mỗi năm ông tặng khoảng 40 triệu đô cho các quỹ từ thiện song ông vẫn hết sức tận tụy với năng khiến thiên bẩm của mình “nghiên cứu về đầu tư chứng khoán”. Cũng nhờ có các nghiên cứu chuyên sâu về thị trường, việc hoạch định tính toán thời gian của Templeton luôn hoàn hảo đến mức tuyệt đối. Ngay từ giai đoạn đầu tiên của thời kì cổ phiếu ngành công nghệ và internet bùng nổ những năm 1990, Templeton đã có được một vị trí đáng kể trên thị trường cổ phiếu của lĩnh vực này và kiếm về cho mình cả một gia tài.
Thế nhưng câu hỏi đặt ra là làm sao ông có thể chọn được đúng những cổ phiếu sẽ đem lại lợi nhuận cho ông? Nguyên tắc đầu tiên của Templeton – giờ cũng đã trở nên quá quen thuộc với các nhà đầu tư chứng khoán toàn cầu – là “đi ngược lại đám đông”.
Theo quan điểm của Templeton, các cổ phiếu không phổ biến không đồng nghĩa với cổ phiếu tồi. Chỉ đơn giản là chúng không “hợp thời trang” và vì thế giá của chúng không tốt. Tìm ra được các cổ phiếu này chính là tiêu chuẩn chủ đạo trong các quyết định đầu tư của Templeton. Bằng cách theo dõi quá trình lên sàn của công ty (mức giá cổ phiếu và khối lượng cổ phiếu phát hành), sau đó tính toán giá trị thực chất (điều mà Templeton tin là tài sản của công ty và là giá trị thị trường đúng đắn), ông chấm ra những cổ phiếu đang được giao dịch quá rẻ. Câu danh ngôn nổi tiếng nhất của Templeton trong trang web của mình chỉ ra “một lời khuyên mẫu mực về mua cổ phiếu chính là ‘Mua rẻ, bán đắt’ ”. Thế nhưng Templeton không chỉ đưa ra nguyên tắc này mà còn thực hiện nó ở mức tối đa – ông chọn mua vào cổ phiếu của các công ty, các ngành và thậm chí cả các quốc gia đang ở đáy của thị trường chứng khoán, hay “có đứng vị trí quán quân về sự bi quan”.
Công đoạn tiếp theo trong quá trình đầu tư của Templeton là đánh giá rủi ro. Cổ phiếu có thể ở mức giá rất “hời”, song rủi ro nằm ở chỗ “ai đó có thể làm một việc gì đó ngu ngốc”. Trong nhiều năm, sự kết hợp giữa đánh giá giá trị và rủi ro đã dẫn đường cho ông khi đầu tư trên phạm vi toàn thế giới. Ông từng nói với một phóng viên, nếu cho ông đưa ra một lời phê bình đối với Warren Buffet thì đó sẽ là “Ông ta là người có tầm nhìn hạn hẹp. Lẽ ra ông ta đã có thể giàu hơn nữa nếu chịu bỏ thời gian và công sức với các thị trường nước ngoài”. Trong khi đó, hoàn toàn ngược lại, Templeton tỏ ra rất thích thú với việc đầu tư ở nước ngoài. Ví dụ như hiện nay, quốc gia đang lọt vào mắt xanh của Templeton là Hàn Quốc, song ông cũng đồng thời tìm kiếm các cơ hội đáng giá khác ở Trung Quốc, Canada và Nga.
Lời khuyên của ông đối với các nhà đầu tư nhỏ là Hãy tiếp cận thị trường giống như cách ông làm “Đầu tư vào một quỹ tương hỗ có sự quản lý tốt và tập trung vào các nước hay các lĩnh vực có giá cổ phiếu không quá cao”. Một nơi duy nhất chắc chắn không thể nằm trong danh sách các nước nói trên của ông? Hoa Kì! Templeton nói với phóng viên rằng ông không thể nhớ nổi “cách đây bao lâu rồi một nhà đầu tư có thể cần mẫn đi tìm một món hời trên thị trường này
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)